Tình hình sản xuất công nghiệp xây dựng tỉnh Quảng Ninh - Trang thư viện báo Quảng Ninh điện tử
.

Tình hình sản xuất công nghiệp xây dựng tỉnh Quảng Ninh

;

Năm 2018.

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp (giá so sánh 2010) ước đạt 43.588 tỷ đồng, tăng 8,4% cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 9,1% so với cùng kỳ (Ck tăng 3,7%), trong đó: Ngành nghề chế biến, chế tạo tăng 12,7%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt tăng 7,5%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 9,4%; ngành khai khoáng tăng 6,7%. Chỉ số IIP tăng chủ yếu do ngành công nghiệp khai khoáng trên đà phục hồi, đẩy mạnh sản xuất, tích cực chế biến các chủng loại than đáp ứng theo nhu cầu của thị trường; lượng than sạch tồn kho 4,6 triệu tấn, giảm 5,2 triệu tấn so với đầu năm 2018; ngành khai khoáng tiếp tục đóng góp quan trọng, chiếm 19,1% tỷ trọng GRDP và 45,8% tổng  thu ngân sách nội địa; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất, phân phối điện tiếp tục được bổ sung năng lực sản xuất mới.

Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ: Than khai thác 38,2 triệu tấn, tăng 6,8%; điện sản xuất 29,1 tỷ kwh tăng 7,5%; xi măng 3,9 triệu tấn, tăng 1,4%; clinker 4,3 triệu tấn, tăng 13,2%; sợi bông 223,8 nghìn tấn, tăng 2,1%; bột mì 389 nghìn tấn, tăng 16,1%; dầu thực vật 276 nghìn tấn, tăng 12,7% ...

Giá trị tăng thêm ngành xây dựng (giá so sánh 2010) ước đạt 6.779 tỷ tăng 18% cùng kỳ, đóng góp 1,1 điểm % vào mức tăng chung. Thị trường bất động sản tiếp tục có sức hút các nhà đầu tư, nhất là thành phố Hạ Long hình thành các trung tâm đô thị hiện đại. Nhiều dự án, công tình động lực lớn đang dước triển khai tích cực, thuận lợ, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng khu vực công nghiệp, xây dựng.

(Báo cáo của UBND tỉnh)

Tệp đính kèm: Báo cáo số 220/BC-UBND về tình hình kinh tế- xã hội và công tác điều hành của UBND tỉnh năm 2018, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2019.

9 tháng đầu năm 2018

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp toàn ngành công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Quảng NInh 9 tháng dầu năm ước tăng 8,72% so với cùng kỳ (CK tăng 4,19%), trong đó: Ngành chế biến, chế tạo tăng 10,78%; ngành sản xuất phấn phối điện, khí đốt tăng 7,12%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 8,15%; ngành khai khoáng tăng 9,05%. Chỉ số IIP tăng chủ yếu do ngành công nghiêp khai khoáng trên đà phục hồi, đẩy mạnh sản xuất, đấy mạnh chế biến các chủng loại than đáp ứng theo nhu cầu của thị trường; lượng than sách tồn kho đến tháng 9/2018 còn 5,09 triệu tấn, giảm 3,9 triệu tấn so với đầu năm 2018; công nghiệp khai khoáng tiếp tục đóng góp quan trọng, chiếm 19% GRDP; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất, phân phối điện tiếp tục được bổ sung năng lực sản xuất mới (Tổ máy số 1- công suất 300MW của nhà máy Nhiệt điện Thăng Long đã đưa vào phát điện thương mại; sản phẩm vải dệt thoi của Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Texhong Ngân Hà; sản phẩm may mặc của Công ty TNHH may mặc Hoa Lợi).

Sản lượng các sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ: Than khai thác 28,8 triệu tấn, tăng 9,6%; xi măng 2,87 triệu tấn, tăng 3,8%; Clinker 3,1 triệu tấn, tăng13,4%; sợi bông 165 nghìn tấn, tăng 2,7%; bột mì 281 nghìn tấn, tăng 9,4%; dầu thực vật 199 nghìn tấn, tăng 13%... Tuy nhiên, trong quý III năm 2018, một số tổ máy của các nhà máy nhiệt điện (Quảng Ninh, Cẩm Phả, Mông Dương 1, Uông Bí) phải ngừng hoạt động theo nhu cầu hoạt động của Trung tâm điều độ Hệ thống điện miền Bắc và định kỳ thực hiện bảo dưỡng nên sản lượng điện sản xuất chỉ đạt 22 tỷ kwh, tăng 7,1% so với cùng kỳ (CK tăng 8,1%).

Giá trị tăng thêm ngành xây dựng tăng 17,5% cùng kỳ, đóng góp 1,0 điểm vào mức tăng chung. Các dự án, công trình động lực lớn đang được triển khai tích cực, thuận lợi, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của khu vực công nghiệp- xây dựng./.

(Báo cáo của UBND tỉnh)

Tệp đính kèm: Báo cáo số 281 ngày 26-9-2018 của UBND tỉnh về tình hình kinh tế- xã hội 9 tháng, nhiệm vụ trọng tâm Quý III năm 2018

Năm 2017.

Chỉ số toàn ngành công nghiệp cả năm ước tăng 3,77% so với năm trước, cao hơn mức tăng 0,88% của năm 2016 do có sự phục hồi của ngành khai khoáng. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 4,98%, ngành sản xuất phân phối điện tăng 8,09%, ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,56%, ngành khai khoáng phục hồi ở mức nhẹ giảm 0,23% so với mức giảm 2,87% của năm 2016 (khai thác than cứng và than non giảm 0,35% so với mức giảm 2,87% của năm 2016).

Các sản phẩm công nghiệp có mức tăng nhẹ và ổn định so với năm trước: Bột mỳ các loại đạt 355 triệu tấn, tăng 11,6%; điện sản xuất đạt 27,132 triệu kwh, tăng 6,5%, sợi bông cotton đạt 219,2 nghìn tấn, tăng 8,5%, nganh than đã có dấu hiện khởi sắc hơn, sản phẩm than sạch đạt 35,8 triệu tấn, giảm 1,0% so với mức giảm của năm 2016 (7,7%).

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,31% so với năm 2016. Chỉ số tồn kho tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước.

(Theo Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2017)

.
.
.
.