Kết quả sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp tỉnh Quảng Ninh - Trang thư viện báo Quảng Ninh điện tử
.

Kết quả sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông- lâm- ngư nghiệp tỉnh Quảng Ninh

;

Năm 2018.

Giá trị tăng thêm khu vực nông- lâm- thủy sản (giá so sánh 2010) ước đạt 5.722 tỷ đồng, tăng 3,5% cùng kỳ.

Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trông ước đạt 67.178 ha bằng 99,7% cùng kỳ,  trong đó: Vụ Đông xuân đạt 36.033,4 ha, vụ Mùa đạt 31.144,6 ha. Toognr lượng lương thực ước đạt 223,6 nghìn tấn, tăng 1,9% cùng kỳ. Các địa phương đã chuyển đổi 892,62 ha trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây cho năng suất, chất lượng cao; triển khai sản xuất trên 20 "cánh đồng lớn" với diện tích 521,23 ha sản xuất lúa, tăng 86,73 ha so với cùng kỳ. Công tác quản lý thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, vật tư nông nghiệp được tăng cường.

Chăn nuôi trên địa bàn tỉnh ổn định, không phát sinh các dịch bệnh nguy hiểm, lây lan thành dịch. Các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi duy trì quy mô đàn, tiếp tục mở rộng sản xuất, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong chăn nuôi; đến nay, toàn tỉnh có 224 trang trại, tăng 10 trang trại so với cùng kỳ; số lượng đàn bò tăng 12,8%, đàn lợn tăng 2%, gia cầm tăng 3% so với cùng kỳ; tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 104.406 tấn, tăng 2,7% cùng kỳ. Công tác kiểm soát giết mổ, phòng chống dịch bệnh, tiêm phòng, khử trùng, tiêu độc được thực hiện thường xuyên.

Lâm nghiệp: Tập trung  bảo vệ, phát triển và rừng đặc rụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, hoàn thành lập điều hỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; toàn tỉnh trồng được 12.320 harừng tập trung, bằng 100,1% cùng kỳ; trồng rừng thay thế đạt 248,6 ha; trồng cây phân tán các loại 478.000 cây; tỷ lệ che phủ rừng 54,5%, đạt kế hoạch năm. Khai thức gỗ 376.758 m3, bằng 101,5% cùng kỳ; khai thác nhựa thông đạt 2.155 tấn, tăng 4,6% cùng kỳ.

Thủy sản: Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 124.282 tấn, tăng 6,1% cùng kỳ, trong đó: Khai thác 64.922 tấn, tăng 3,2%, nuôi trồng 59.360 tấn, tăng 6,4%; đã thả 4,96 tỷ con giống trên diện tích 24.425 ha, tăng 780 ha so với cùng kỳ; sản xuất, cung ứng giống thủy sản đạt 880 triệu con giống. CÔng tác phòng, chống dịch bệnh nuôi trồng thủy sản, quản lý tàu cá, thực hiện chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 17/2018/NĐ-Cp ngày 02/02/82018 của Chính phủ được quan tâm triển khai đến người dân; tăng cường quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, xử lý kiên quyết các trường hợp vi phạm.

Thủy lợi: Trữ lượng nước ở 25 hồ đập là 249 triệu m3, giảm 10,2 triệu m3 so với tháng trước, giảm 6,1 triệu m3 so với cùng kỳ; nguồn nước đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân; tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 97,6% tăng 0,6% so với kế hoạch.

Chương trình xây dựng nông thôn mới, Đề án 196 đưa các xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành chương trình 135 được các ngành, địa phương triển khai đồng bộ, với nhiều giải pháp thiết thực, sát với thực tiễn, phát huy được vai trò, trách nhiệm của người dân; Chương trình xây dựng nông thôn mới đã và đang triển khai 727 dự án, công trình, vốn ngân sách tỉnh bố trí 200 tỷ đồng, đến 15/11/2018 giải ngân 92,4 tỷ đồng đạt 42% kế hoạch. Đề án 196 với 317 danh mục công trình và các dự án hỗ trợ sản xuất, vốn ngân sách tỉnh bố trí 350 tỷ đồng, giải ngân đến 25/11/2018 là 254 tỷ đồng, đạt 72,5% kế hoạch. Dự án đến hết 2018, có 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 3 xã so với kế hoạch) nâng tổng số xã trong toàn tỉnh lên 65/111 xã đạt chuẩn (tỷ lệ 58,5%); có thêm 5 xã và 40 thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành chương trình 135 (tăng 3 xã, 6 thôn so với kế hoạch), nâng tổ số lên 5/17 xã và 40/54 thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, hoàn thành chương trình 135. Chương trình OCOP được tập trung triển khai, phát triển thêm 24 đơn vị và 93 sản phẩm tham gia chương trình OCOP, đến nay toàn tỉnh có 130 đơn vị với 322 sản phẩm OCOP trong đó 131 sản phẩm được xếp hạng sao; tổ chức thành công 23 hội chợ, phiên chợ, tuần OCOP trên địa bàn tỉnh, phát triển 23 trung tâm và điểm bán hàng OCOP, góp phần kích thích phát triển sản xuất, tăng cầu tiêu dùng, xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn: Các cấp, ngành chủ động triển khai nhiều biện pháp đảm bảo an toàn đê điều, hồ đập, phòng chống mưa bão, ngập lụt, sạt lở đất; tập trung phòng, chống bão số 3, số 4, số 5 và số 6 nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do mưa bão; khắc phục thiệt hai do hoàn lưu cơn bão số 3, kịp thời khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân; tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 14/8/2018 triển khai Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/06/2018 của Chính phủ về phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.

(Theo báo cáo của UBND tỉnh).

Tệp đính kèm: Báo cáo số 220/BC-UBND về tình hình kinh tế- xã hội và công tác điều hành của UBND tỉnh năm 2018, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2019.

Năm 2017.

Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, bất lợi do tác động của thời tiết khắc nghiệt, diễn biến thất thường như: rét đậm, nắng nóng kéo dài đã ảnh hưởng đến điều kiện phát triển cây trồng, vật nuôi.

Sản lượng lúa đạt 195,9 nghìn tấn, giảm 15,9 nghìn tấn (tương đương 7,5%) so với năm 2016. Sản lượng cây lương thực có hạt đạt 219,3 nghìn tấn giảm 6,9% so với năm trước.

Diện tích trồng rừng mới tập trung của toàn tỉnh đạt 12,3 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm 2016, trong đó rừng sản xuất đạt 11,9 nghìn ha, tăng 0,9%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 371 nghìn m3, tăng 1,2% so với năm trước.

Sản lượng thuý sản đạt 117,1 nghìn tấn, tăng 7,6%, trong đó sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 54,2 nghìn tấn, tăng 9,3%, sản lượng thuỷ sản khai thác đạt 62,9 nghìn tấn, tăng 6,1%  so với năm 2016.

(Theo Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2017)

.
.
.
.